Hướng dẫn xử trí ngưng thở kháng trị với trẻ sinh non

5

Trẻ sinh non thường có nguy cơ cao bị AoP, và các phương pháp như sử dụng methylxanthin, Continuous Positive Airway Pressure (CPAP), hoặc kết hợp CPAP với methylxanthin thường được áp dụng. Hãy tham khảo nội dung hướng dẫn trong nội dung sau đây!


Hướng dẫn xử trí ngưng thở kháng trị với trẻ sinh non

Xử trí ngưng thở kháng trị ở trẻ sinh non  

Chuyên gia Cao đẳng Y Dược TP.HCM cho biết: Nguy cơ ngưng thở do sinh non (apnea of prematurity – AoP) thường cao ở trẻ sinh non, và phương pháp điều trị thường bao gồm sử dụng methylxanthin (caffeine hoặc aminophylline), CPAP, hoặc kết hợp CPAP với methylxanthin. Mặc dù nhiều trẻ sơ sinh có thể phản ứng tích cực với các liệu pháp này, nhưng một số trường hợp, đặc biệt là ở trẻ sinh non tháng hoặc trẻ bị tổn thương thần kinh trung ương, với nguy cơ ngưng thở nghiêm trọng, có thể đòi hỏi nỗ lực hồi sức thậm chí khi đang nhận điều trị CPAP và methylxanthin. Trong trường hợp này, việc sử dụng thử NIPPV (noninvasive positive pressure ventilation) có thể cần thiết và sau đó, nếu thông khí áp lực không xâm lấn không đủ, có thể phải xem xét việc đặt nội khí quản và sử dụng máy thở.

Với trẻ sơ sinh chủ yếu bị ngưng thở, việc thông khí có thể được thực hiện với áp lực thấp hơn (10–15 cm H2O), đủ để tạo ra chuyển động lồng ngực bình thường. Tần số thấp (10–20 lần/phút) thường được thiết lập, và FiO2 được điều chỉ để duy trì mức SpO2 trong khoảng 91%–95%. Điều này giúp giảm bệnh phối và tối ưu hóa hỗ trợ hô hấp cho trẻ sinh non mắc ngưng thở.

Xử trí loạn sản phế quản phổi đã hình thành  

Mặc dù thường chẩn đoán BPD ở trẻ sinh non vào ngày thứ 28 sau khi sinh hoặc 36 tuần sau kỳ kinh cuối, các bác sĩ thường nhận thức rằng một số trẻ sơ sinh không có sự cải thiện nhanh và có nguy cơ cao mắc BPD sau 1 hoặc 2 tuần sau khi sinh. Đối với trẻ sơ sinh mắc hội chứng hô hấp cấp (RDS), hầu hết họ thường cải thiện nhanh chóng và rút nội khí quản trước tuần thứ nhất với sự chăm sóc phù hợp. Trái lại, những trẻ không có sự cải thiện nhanh và vẫn cần thiết cài đặt máy thở intermittent mandatory ventilation (IMV) với áp lực cao có nguy cơ cao mắc BPD.

Mục tiêu chính khi xử trí máy thở ở trẻ mắc BPD là duy trì sự trao đổi khí đầy đủ mà vẫn giảm thiểu tổn thương phổi liên quan đến máy thở. Việc đặt cài đặt máy thở chính xác sẽ phụ thuộc vào cơ học phổi và tình trạng trao đổi khí. Các điều chỉnh có thể bao gồm tần số thấp hơn và áp lực thấp hơn cho trẻ có biểu hiện giống RDS, trong khi áp dụng chiến lược tần số thấp và áp lực cao hơn cho trẻ có phổi xẹp và khu vực siêu bơm phồng phổi.

Các trẻ mắc BPD nặng có thể được hưởng lợi từ việc duy trì mục tiêu thể tích và khả năng dung nạp PaCO2 cao hơn, miễn là pH được duy trì > 7,2. Sự kết hợp của áp lực PEEP cao hơn (5–8 cm H2O) và tần số thấp hơn thường tạo ra sự tương hợp V/Q tốt hơn. Trong những trường hợp nặng, áp lực đỉnh và thể tích khí lưu thông có thể cần phải được điều chỉnh để đảm bảo oxygen hóa hiệu quả mà không gây tổn thương phổi.

Quan trọng là cần lưu ý đến việc giảm cài đặt máy thở bất cứ khi nào có thể, nhằm giảm nguy cơ tổn thương phổi do ventilator (VILI). Mặc dù có thể tăng cài đặt máy thở nhanh chóng trong các đợt suy giảm, nhưng việc giữ cố định máy thở chậm giữa các đợt này là quan trọng để tránh VILI.

Trong trường hợp trẻ BPD nặng, rút nội khí quản và chuyển sang Continuous Positive Airway Pressure (CPAP) hoặc Positive Pressure Ventilation (PPV) không xâm lấn có thể được xem xét, với mức Mean Airway Pressure (MAP) hợp lý, tần số và FiO2 cao. Tuy nhiên, việc này phải được thực hiện cẩn thận để tránh tăng áp động mạch phổi.

Chuyên gia y tế tại một số trường Cao đẳng Y Dược Hà Nội chia sẻ thêm: Cần theo dõi thường xuyên áp động mạch phổi, và nếu cần, thực hiện các xét nghiệm và liệu pháp bổ sung như hit oxit nitric, sildenafil, và mục tiêu bão hòa oxy cao hơn. Trong một số trường hợp nặng, phẫu thuật mở khí quản có thể được xem xét để hỗ trợ đường thở và giảm chết nghẹt. Hỗ trợ máy thở như Neutrally Adjusted Ventilatory Assist (NAVA) cũng có thể được xem xét cho một số trẻ.

Phương thức thông khí thay thế, như thông khí tần số cao, không thể coi là tối ưu trong BPD nặng, do sự cản trở đường thở cao làm giảm hiệu quả trao đổi khí.

Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur tuyển sinh Liên thông Cao đẳng Hộ sinh 

Trẻ đủ tháng cần thở máy  

  1. Trẻ đủ tháng với phổi bình thường:
    • Trẻ đủ tháng có phổi bình thường, chẳng hạn như trường hợp cần thở máy do yêu cầu gây mê toàn thân hoặc vấn đề thần kinh.
    • Trẻ có phổi bình thường nhưng cần hỗ trợ hô hấp trong thời gian ngắn, ví dụ như trong quá trình phẫu thuật, hoặc trong thời gian dài đối với các vấn đề thần kinh cơ, cần sự thông khí bằng áp lực thấp (10–15 cm H2O; đủ để chuyển động lồng ngực bình thường), với tần số trung bình (30–50 lần/phút) và FiO2 thấp (nếu phối bình thường và không có bệnh lý toàn thân nặng, FO, cần thiết thường < 25%).
    • Theo dõi tình trạng ngưng thở và giảm độ bão hòa sau khi rút nội khí quản là quan trọng, ngay cả sau khi thở máy ngắn.
  2. Trẻ đủ tháng bị hội chứng hypoxic-Ischemic Encephalopathy (HIE):
    • Trẻ sơ sinh có thể có bệnh lý phổi khi mắc HIE, nhưng thường giảm khả năng kiểm soát hô hấp.
    • Trẻ có thể ngưng thở do tổn thương não nặng hoặc thở nhanh do nhiễm toan chuyển hóa.
    • Điều trị thường bao gồm hạ thân nhiệt trị liệu và duy trì PaCO2 (35–45 mmHg) để tránh tổn thương não thêm.
    • Cài đặt máy thở tương tự như đối với trẻ đủ tháng có phổi bình thường, trừ khi có các tình trạng đặc biệt như quá tải dịch, ARDS, xuất huyết phối hoặc các bệnh tật khác liên quan đến HIE.
  3. Trẻ đủ tháng với phổi hoặc tuần hoàn phổi không bình thường:
    • Trẻ có thể mắc các chứng bệnh như PPHN, MAS, CDH, hoặc các bệnh lý khác.
    • Trẻ mắc PPHN thường có giảm oxy máu nghiêm trọng, yêu cầu duy trì PaO2 và pH trong khoảng 60–100 mmHg và 7,35–7,45, để tránh tăng áp động mạch phổi và chuyển hướng máu từ phải sang trái.
    • Trẻ mắc MAS có thể yêu cầu thời gian thở ra tăng và PEEP giảm nếu bảy khí là vấn đề, và liệu pháp hỗ trợ như iNO và surfactant cần được xem xét sớm.
    • Trẻ mắc CDH cần được xử trí chuyên khoa, thường áp dụng chiến lược “thông khí nhẹ nhàng” và duy trì oxygen hóa và PaCO2 trong khoảng đủ để giảm tổn thương não.

Cử nhân Cao đẳng Hộ sinh TP.HCM lưu ý: Trong trường hợp PPHN, khi trẻ sơ sinh bị giảm oxy máu kéo dài hoặc tăng CO2 máu, nên xem xét sớm việc sử dụng hít oxit nitric để giãn mạch phổi và cải thiện tương hợp V/Q, thay vì tăng áp lực máy thở và tần số rất cao. Điều này giúp tránh MAP quá mức và giảm nguy cơ tổn thương tuần hoàn phổi.

Trong trường hợp MAS, nếu bảy khí là vấn đề, việc gia tăng thời gian thở ra (0,5 giây, tối đa có thể là 0,7–1 giây) và giảm PEEP (đến 2,4 cm H2O) có thể hữu ích. Cần chú ý đến mức oxy bảo tồn (ví dụ, SpO2 88%–92%, PaO2 45–60 mmHg) và không tăng áp động mạch phổi nếu bảy khí không là vấn đề lớn.

Trong trường hợp CDH, điều trị chuyên khoa và chiến lược “thông khí nhẹ nhàng” thường được áp dụng. Mục tiêu chung là duy trì đủ oxygen hóa và dung nạp PaCO2 cao hơn, với cài đặt máy thở được điều chỉnh để đảm bảo chuyển động lồng ngực đủ và thể tích khí lưu thông/chuyển động lồng ngực (thường là 15–25 cm H2O).

Tóm lại, xử trí máy thở ở trẻ đủ tháng đòi hỏi sự đánh giá cẩn thận của tình trạng lâm sàng và lựa chọn cài đặt máy thở phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

Thông tin chỉ mang tính chất tham khảo!

Tổng hợp bởi  truongcaodangyduocpasteurhn.edu.vn

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here